TỔNG QUAN CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH

TỔNG QUAN CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH
RỐI LOẠN NHÂN CÁCH LÀ GÌ?
 
Rối loạn nhân cách (Personality Disorders) bao gồm 10 tình trạng tâm thần có thể chẩn đoán, được công nhận và miêu tả trong phiên bản thứ năm gần đây nhất của Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5). Khoảng 10% dân số nói chung và tới một nửa số bệnh nhân tâm thần ở các đơn vị bệnh viện và phòng khám có rối loạn nhân cách.
 
Mỗi rối loạn là một vấn đề riêng biệt được xác định bởi các đặc điểm tính cách gây khó khăn và có thể tạo ra những vấn đề liên quan tới người khác theo cách không lành mạnh, và có thể dẫn tới những phiền muộn nhất định hay sự suy giảm đáng kể trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng.
 
CÁC LOẠI RỐI LOẠN NHÂN CÁCH
 
DSM-5 chia rối loạn nhân cách làm ba nhóm (A, B và C), hoặc cụm, dựa trên những đặc điểm góp phần chính.
 
Nhóm A
 
Những rối loạn nhân cách này được đặc trưng bởi hành vi kì lạ hoặc lập dị. Những người mắc rối loạn nhân cách nhóm A có xu hướng trải qua những đổ vỡ trong các mối quan hệ do hành vi của họ có thể bị coi là kì dị, đáng ngờ, hay khác biệt.
 
Rối loạn nhân cách nhóm A bao gồm:
 
- Rối loạn nhân cách hoang tưởng (Paranoid personality disorder), ảnh hưởng tới khoảng 2.3% đến 4.4% những người trưởng thành ở Mỹ. Các triệu chứng bao gồm luôn mất lòng tin vào người khác; nghi ngờ bị người khác lừa dối hoặc lợi dụng, bao gồm bạn bè, gia đình và vợ/ chồng.

- Rối loạn nhân cách phân liệt (Schizoid personality disorder), được đặc trưng bởi sự cô lập xã hội và sự khác biệt đối với mọi người. Rối loạn này ảnh hưởng tới đàn ông nhiều hơn so với phụ nữ. Những người mắc rối loạn này thường được miêu tả là thờ ơ hoặc thu mình, hiếm khi có những mối quan hệ gần gũi với những người khác, và có thể bị ám ảnh với nội quan và ảo tưởng.

- Rối loạn nhân cách loại phân liệt (Schizotypal personality disorder), được thể hiện qua cách nói, hành vi và dáng điệu kì lạ, cũng như ý tưởng khác thường và sự khó khăn trong việc hình thành các mối quan hệ.
 
Nhóm B
 
Rối loạn nhân cách nhóm B được đặc trưng bởi hành vi thái quá hoặc thất thường. Những người mắc rối loạn nhân cách ở nhóm này thường có xu hướng trải qua những cảm xúc rất dữ dội hay tham gia vào những hành vi bốc đồng, thái quá, thất thường hay phạm pháp.
 
Rối loạn nhân cách nhóm B bao gồm:
 
- Rối loạn nhân cách chống đối xã hội (Antisocial personality disorder), thường có xu hướng xuất hiện từ thời thơ ấu, không giống như hầu hết các rối loạn nhân cách khác (không trở nên rõ ràng cho tới thời thanh thiếu niên hay mới trưởng thành). Những triệu chứng bao gồm coi thường các quy tắc, chuẩn mực xã hội và lừa dối, thao túng, không có lòng thương xót tới những người khác.

- Rối loạn nhân cách ranh giới (Borderline personality disorder), được đặc trưng bởi sự không ổn định trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, rối loạn điều chỉnh cảm xúc và sự tự nhận thức về bản thân, có những hành vi bốc đồng.

- Rối loạn nhân cách kịch tính (Histrionic personality disorder), được thể hiện qua tính đa cảm thái quá và tìm kiếm sự chú ý, thường dẫn tới hành vi không phù hợp với xã hội để thu hút sự chú ý. 

- Rối loạn nhân cách ái kỷ (Narcissistic personality disorder), có liên quan tới sự tự cho mình là trung tâm, phóng đại sự tự nhận thức về bản thân, thiếu đồng cảm với những người khác và thường bị thúc đẩy bởi lòng tự trọng yếu ớt của bản thân.
 
Nhóm C
 
Rối loạn nhân cách nhóm C được đặc trưng bởi sự lo âu. Những người trong nhóm này thường có xu hướng trải qua sự lo lắng và/ hoặc sợ hãi lan toả.
 
Rối loạn nhân cách nhóm C bao gồm:
 
- Rối loạn nhân cách tránh né (Avoidant personality disorder) là một khuôn mẫu của sự ức chế và né tránh xã hội bị kích thích bởi nỗi sợ hãi về sự kém cỏi và bị mọi người trỉ trích.

- Rối loạn nhân cách phụ thuộc (Dependent personality disorder), liên quan đến nỗi sợ khi ở một mình, tính phục tùng và thường khiến những người mắc rối loạn này làm những việc để khiến người khác quan tâm, chăm sóc họ.

- Rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế (Obsessive-compulsive personality disorder), được đặc trưng bởi sự ám ảnh về trật tự, chủ nghĩa hoàn hảo và việc kiểm soát các mối quan hệ một cách cứng nhắc. Tuy rằng có tên gần giống nhau, nhưng nó không giống với Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (Obsessive-compulsive disorder).
 
TRIỆU CHỨNG
 
Rối loạn nhân cách thường có xu hướng xuất hiện ở tuổi vị thành niên hoặc đầu tuổi trưởng thành, kéo dài trong nhiều năm, và có thể gây ra rất nhiều phiền toái. Chúng có khả năng gây ra xung đột lớn với những người khác, ảnh hưởng tới các mối quan hệ, tình huống xã hội, và mục tiêu của cuộc sống. Những người mắc rối loạn nhân cách thường không nhận ra họ có vấn đề và thường gây khó hiểu và thất vọng tới những người xung quanh họ (bao gồm cả bác sĩ lâm sàng).
 
Những triệu chứng nhất định của rối loạn nhân cách có thể chia làm hai loại: nhận dạng bản thân và mối quan hệ liên cá nhân.
 
Các vấn đề về nhận dạng bản thân:
 
- Sự tự nhận thức về bản thân không rõ ràng
- Sự không nhất quán về các giá trị, mục tiêu, và ngoại hình
 
Các vấn đề về mối quan hệ liên cá nhân:
 
- Sự vô cảm với người khác (không thể đồng cảm)
- Khó khăn trong việc hiểu được ranh giới giữa bản thân và người khác
- Phong cách không nhất quán, rời rạc, quá khích, lạm dụng, hoặc vô trách nhiệm
 
CHẨN ĐOÁN
 
Theo DSM-5, một người phải đáp ứng những tiêu chí sau để có thể được chẩn đoán mắc rối loạn nhân cách:
 
- Những khuôn mẫu hành vi mãn tính và lâu dài ảnh hưởng tới hoạt động xã hội, công việc, trường lớp, và các mối quan hệ thân thiết
- Những triệu chứng ảnh hưởng tới hai hoặc nhiều hơn trong bốn lĩnh vực sau: suy nghĩ, cảm xúc, cách thức hoạt động giữa các cá nhân, sự kiểm soát xung động
- Các khuôn mẫu hành vi có thể bắt nguồn từ thời thanh thiếu niên hoặc giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành
- Những khuôn mẫu hành vi không thể giải thích bởi bất cứ rối loạn tâm thần, sử dụng chất, hay tình trạng y khoa nào khác
 
Với thanh thiếu niên dưới <18 tuổi, để chẩn đoán rối loạn nhân cách thì các khuôn mẫu hành vi phải kéo dài từ 1 năm trở lên; ngoại trừ rối loạn nhân cách chống đối xã hội, không được phép chẩn đoán ở người <18 tuổi.
 
Chẩn đoán phân biệt
 
Trước khi một bác sĩ lâm sàng có thể chẩn đoán một rối loạn nhân cách, họ cần phải chẩn đoán phân biệt để loại trừ các rối loạn hay tình trạng y tế khác có thể gây nên những triệu chứng.
 
Chẩn đoán phân biệt rất quan trọng nhưng cũng có thể rất khó để chẩn đoán đúng khi rối loạn nhân cách cũng thường xảy ra cùng với những rối loạn tâm thần khác. Một người đáp ứng được các tiêu chuẩn của một rối loạn nhân cách sẽ thường đáp ứng tiêu chuẩn của một hoặc nhiều rối loạn nhân cách khác.
 
Trong một nghiên cứu được tài trợ bởi Viện Sức khoẻ Tâm thần Quốc gia Mỹ (National Institute of Mental Health), phát hiện ra rằng khoảng 85% những người mắc rối loạn nhân cách ranh giới (BPD) cũng đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của ít nhất một rối loại nhân cách hoặc cảm xúc khác.
 
NGUYÊN NHÂN
 
Rối loạn nhân cách không phân biệt tuổi tác hay giới tính. Khoảng 10% dân số nói chung và tới một nửa số bệnh nhân tâm thần bị rối loạn nhân cách.
 
Dù các chuyên gia chưa hiểu hết được những nguyên nhân dẫn tới rối loạn nhân cách, nhưng họ tin rằng cả yếu tố di truyền lẫn môi trường đều có vai trò trong việc gây nên những rối loạn này.
 
Khoảng 50% những người bị mắc rối loạn nhân cách được cho là liên quan tới yếu tố di truyền và tiền sử gia đình. Các yếu tố di truyền có thể khiến một người dễ mắc các tình trạng này hơn, trong khi trải nghiệm và các yếu tố môi trường khác có thể kích hoạt sự phát triển của rối loạn nhân cách.
 
Có một mối liên hệ đáng kể giữa tiền sử chấn thương tâm lý thời thơ ấu cũng như việc lạm dụng bằng lời nói. Một nghiên cứu cho thấy trẻ em bị lạm dụng bằng lời nói có nguy cơ bị rối loạn nhân cách ranh giới, ái kỷ, rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế hoặc rối loạn nhân cách hoang tưởng cao gấp ba lần khi trưởng thành.
 
Trẻ có phản ứng dữ dội, bao gồm nhạy cảm với ánh sáng, tiếng ồn, kết cấu, và sự kích thích khác cũng có liên quan tới một số rối loạn nhân cách nhất định.
 
ĐIỀU TRỊ
 
Khi được so sánh với rối loạn cảm cảm xúc như trầm cảm lâm sàng và rối loạn lưỡng cực, trong lịch sử có tương đối ít nghiên cứu về cách điều trị hiệu quả chứng rối loạn nhân cách. Rất nhiều chuyên gia tin rằng rối loạn nhân cách khó để điều trị vì chúng được định nghĩa là những khuôn mẫu nhân cách tồn tại lâu dài. Thế nhưng, ngày càng có thêm nhiều phương pháp trị liệu dựa trên bằng chứng được cho là có hiệu quả đối với rối loạn nhân cách.
 
Nhìn chung, mục tiêu trị liệu của rối loạn nhân cách bao gồm:
 
- Giảm nỗi đau đớn chủ quan và các triệu chứng như lo âu và trầm cảm
- Giúp mọi người hiểu các vấn đề trong nội tâm của họ
- Thay đổi các hành vi kém thích nghi và kém mong muốn về mặt xã hội, bao gồm liều lĩnh, cô lập xã hội, thiếu quyết đoán và giận dữ bột phát
- Điều chỉnh các đặc điểm tính cách có vấn đề như sự phụ thuộc, nghi ngờ, tính ngạo mạn, và sự thao túng
 
Tâm lý trị liệu
 
Hiệp Hội Quốc Gia về Bệnh lý Tâm thần (NAMI) liệt kê một số liệu pháp tâm lý có thể hữu dụng trong việc điều trị rối loạn nhân cách gồm:
 
Liệu pháp hành vi biện chứng (DBT), hướng dẫn người bệnh những kĩ năng và chiến lược để đối phó với những thôi thúc liên quan tới tự hại và tự tử, điều chỉnh cảm xúc và cải thiện các mối quan hệ.

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT), mục tiêu được NAMI nêu ra chính là “để nhận ra những ý nghĩ tiêu cực và học các chiến lược đối phó hiệu quả.”

Trị liệu dựa trên tinh thần (MBT), dạy mọi người cách chú ý và suy nghĩ về trạng thái nội tâm của bản thân cũng như  những người khác.

Trị liệu phân tâm, tập trung vào vô thức, nơi chứa đựng những cảm xúc buồn bã, sự thôi thúc, và ý nghĩ quá đau đớn mà chúng ta không thể trực tiếp đối mặt.

Trị liệu gia đình, khi những thành viên trong gia đình học cách thay đổi những phản ứng tiêu cực với nhau và học các cách giao tiếp hiệu quả.
 
Thuốc
 
Thuốc có thể hữu dụng để điều trị các vấn đề liên quan hoặc xuất hiện đồng thời như trầm cảm hoặc lo âu. Tuỳ thuộc vào những triệu chứng, nhà cung cấp dịch vụ y tế có thể kê đơn một hoặc nhiều những loại sau đây:
 
- Thuốc chống lo âu
- Thuốc chống trầm cảm
- Thuốc chống loạn thần
- Thuốc ổn định khí sắc
 
ĐỐI PHÓ VỚI RỐI LOẠN TÂM THẦN
 
Ngoài việc tìm kiếm sự trợ giúp từ chuyên gia, điều quan trọng là bạn cần nỗ lực và tìm đến một người bạn hoặc thành viên trong gia đình có thể giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn.
 
Trở thành một chuyên gia. Khi bạn càng hiểu biết về tình trạng của mình, bạn sẽ càng có thể hiểu và dễ dàng đối phó với những triệu chứng hơn. Tự giáo dục bản thân về tình trạng của bạn cũng có thể giúp bạn có động lực tiếp tục quá trình điều trị.

Đóng vai trò chủ động trong trị liệu của bạn. Dành thời gian để suy nghĩ về mục tiêu điều trị của bản thân trong và sau những buổi trị liệu. Kể cả khi bạn thấy không khoẻ, đừng bỏ những buổi trị liệu hay ngừng dùng thuốc mà không nói với chuyên gia y tế. Tương tự, hãy đảm bảo tham gia vào những buổi trị liệu thường xuyên.

Thực hành chiến lược tự chăm sóc bản thân. Thường xuyên tập thể dục, thực hiện lịch trình ăn uống và nghỉ ngơi đầy đủ có thể ngăn chặn những dao động tâm trạng và kiểm soát lo âu, căng thẳng và trầm cảm. Một điều quan trọng nữa là tránh sử dụng ma tuý và rượu bia, vì chúng có thể khiến những triệu chứng tệ hơn và ảnh hưởng tới thuốc.
 
Dành cho người thân
 
Nếu bạn có người thân hoặc bạn bè mắc rối loạn nhân cách, bạn cũng có thể nói chuyện với một chuyên gia sức khoẻ tâm thần. Họ có thể giúp bạn học các kĩ năng đối phó, cách thiết lập ranh giới và thực hành chiến lược tự chăm sóc bản thân. Liệu pháp nhóm và các nhóm hỗ trợ cũng có thể trợ giúp và mang lại những thông tin bổ ích cho bạn và người thân của mình.


Nguồn bài: What Are DSM Personality Disorders? - VeryWell Mind
 

Hãy liên hệ với số hotline 0977.729.396 của Viện ngay hôm nay để được tư vấn tận tình.

Hình ảnh một số bác sĩ tâm thần và chuyên gia tâm lý được đào tạo bài bản và giàu kinh nghiệm của Viện Tâm Lý Việt - Pháp:



 
0977.729.396