11 QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ TỰ HẠI

11 QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ TỰ HẠI

!!! TRIGGER WARNING: Bài viết dưới đây là những thông tin mang tính chất nhạy cảm về tự hại (self-harm). Hãy cẩn trọng khi đọc bài viết này, nếu sức khỏe tâm thần của bạn đang không ổn định hoặc bạn dễ bị kích động/ tác động xấu bởi chủ đề về self-harm, xin hãy suy nghĩ về việc ngừng đọc bài viết.
Liên minh Bệnh Tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ (NAMI) cho biết, một người tự hại (self-harm) khi người đó cố ý gây thương tích cho chính mình bằng những cách như tự cắt rạch, đốt, cấu, hoặc bấu véo chính cơ thể của mình. Những người tự hại thường làm vậy khi đang cố gắng điều tiết cảm xúc tiêu cực. Trong xã hội hiện nay, vẫn còn có rất nhiều những quan niệm sai lầm về việc tự hại được truyền bá rộng rãi, khiến nhiều người không nắm bắt được thông tin một cách chính xác về hiện tượng này. Để giúp mọi người hiểu đúng hơn về tự hại, chúng ta cần phải dựa vào những kiến thức thu thập được từ các nghiên cứu khoa học chính thức.

Quan niệm sai lầm #1: Người tự hại đang cố tự tử.
Sự thật: Một người có thể tự hại mà không có ý định tự sát

Những người tự hại thường không có ý định tự tự sát. Thay vào đó, họ làm vậy là để chống chọi với những cảm xúc tiêu cực hay sự tổn thương. Theo NAMI, việc tự hại có thể khiến cơ thể sản sinh endorphin, giúp cải thiện tâm trạng và giảm bớt đau đớn. Với những người khác, việc tự hại cũng có thể là cách để họ cảm thấy một điều gì đó khi cảm xúc đã tê liệt lâu ngày.
Các nghiên cứu đã khẳng định rằng tự hại không phải lúc nào cũng là để tự sát. Một nghiên cứu về tự hại ở thanh thiếu niên cho thấy, chức năng phổ biến nhất của việc tự hại là để chạy thoát khỏi những cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực. Nếu coi việc tự sát là một biện pháp chạy thoát nỗi đau vĩnh viễn thì tự hại sẽ là một biện pháp tạm thời. Hành vi tự hại không có ý định tự sát đi kèm là rất phổ biến.
Sự khác biệt giữa tự hại và ý định tự sát nằm ở chỗ, người cố tự sát chủ động nghĩ về việc tự sát và lên kế hoạch để làm vậy. Trái lại, việc tự hại thường có tính bốc đồng, tức thời, không được lên kế hoạch trước. Một số nghiên cứu trên thực tế cho thấy, trong số những người tự cắt rạch bản thân, có đến một nửa quyết định sẽ tự hại chỉ chưa đầy một giờ trước đó.
Mặc dù tự sát và tự hại là hai vấn đề khác nhau, người tự hại sẽ có nguy cơ tự sát cao hơn. Các nghiên cứu cho thấy, những thanh thiếu niên có hành vi tự hại có ý định tự sát cao hơn năm lần và có nguy cơ thử tự sát cao hơn đến chín lần. Thêm vào đó, người nào càng tự hại nhiều thì càng dễ có ý định và nguy cơ tự sát cao hơn. Chính vì vậy, mặc dù tự hại một lần không có nghĩa là đã cố tự sát, ta vẫn nên nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm túc để ngăn ngừa tự sát có thể xảy ra trong tương lai.

Quan niệm sai lầm #2: Người tự hại làm vậy để gây chú ý.
Sự thật: Những người có hành vi tự hại thường cảm thấy xấu hổ và muốn giấu việc bản thân tự hại.

Nhiều người thường nghĩ người tự hại làm vậy để mọi người chú ý đến mình. Tuy nhiên, sự thật thường không phải như vậy. Việc tự hại thường đi kèm với rất nhiều sự hổ thẹn, khiến người tự hại thường phải băng bó vết thương hoặc mặc áo dài tay để người khác không để ý. Chính vì vậy, việc tự hại không phải là để gây chú ý, thậm chí là ngược lại.
Theo báo cáo của Tổ chức Sức khoẻ Tâm thần Anh (The Mental Health Foundation), người tự hại thường gặp nhiều khó khăn trong việc chia sẻ về tình trạng của họ cũng như yêu cầu sự giúp đỡ từ những người xung quanh. Các chuyên gia ở Tổ chức cũng khẳng định việc nghĩ rằng người tự hại làm vậy để gây chú ý là một quan niệm sai lầm phổ biến.
Một nghiên cứu ở Anh chỉ ra rằng, các thanh thiếu niên, dù đã từng tự hại hay chưa, đều không ủng hộ việc tự hại để thu hút sự chú ý. Các bạn nghĩ rằng việc tự hại nên được giữ kín một cách riêng tư. Điều này cho thấy, hành vi tự hại có vẻ thường diễn ra một cách bí mật, với mục đích giải toả những nỗi đau về mặt cảm xúc. Những người tự hại vì vậy sẽ không muốn bị người khác để ý đến.

Quan niệm sai lầm #3: Cắt rạch cơ thể là hình thức tự hại duy nhất.
Sự thật: Cắt rạch cơ thể là một hình thức tự hại phổ biến. Tuy nhiên vẫn có các hình thức tự hại khác.

Khi nhắc đến tự hại, nhiều người thường nghĩ ngay tới việc tự cắt rạch cơ thể. Tuy nhiên, người tự hại còn có thể tự bứt tóc, đốt, làm bóng, cào cấu cơ thể hay thậm chí đập đầu vào những thứ xung quanh. Một số hình thức tự hại thường gặp nhất ở thanh thiếu niên có thể kể đến như tự cào cấu, cắt rạch, hay tự đánh đập.
Người tự hại có thể tự đốt, làm bỏng cơ thể bằng cách châm thuốc lá vào da. Việc tự hại còn có thể được thực hiện bằng một số hình thức khác như đấm đá, tự đầu độc bằng việc uống thuốc hay các chất lỏng độc hại. Các chuyên gia còn cho biết trong một số trường hợp, người tự hại còn có thể tự cậy hay chọc vào vết thương, hoặc thậm chí có các hành vi quá khích đến mức có thể gãy xương. Tựu chung lại, có rất nhiều hình thức tự hại khác nhau.

Quan niệm sai lầm #4: Những người tự hại không cảm thấy đau đớn.
Sự thật: Những người tự hại có thấy đau, nhưng cách họ cảm nhận sự đau đớn có thể khác với những người không tự hại.

Những người tự hại không phải là không biết đau, chỉ là họ có thể chịu đựng được những cơn đau vì chúng giúp họ giải toả những cảm xúc tiêu cực. Những cơn đau từ đó trở thành một cơ chế ứng phó với căng thẳng, tạo ra lối thoát cho những cảm xúc tiêu cực bên trong người tự hại. Với những người bị tê liệt cảm xúc, họ tìm tới sự tự hại là để được cảm thấy đau, để được cảm thấy cảm thấy cái gì đó mà không phải sự trống rống.
Vậy người tự hại thực sự thấy thế nào khi làm đau bản thân? Với một số người, việc tự hại có thể khiến họ vô cùng hưng phấn vì nó giúp cơ thể sản sinh endorphin. Cũng có một số nghiên cứu về tự hại không đi kèm ý định tự sát cho thấy, người tự hại có khả năng chịu đau đớn tốt hơn. Dù đúng là họ có cảm nhận được đau đớn, sự giải toả cảm xúc đi kèm đã bù đắp lại phần nào khiến họ có thể chịu đựng tốt hơn. Bên cạnh đó, những người tự hại chịu đau tốt hơn cũng có thể vì họ phân ly (cảm giác thoát ly khỏi cơ thể của chính mình) khi đang tự hại.

Quan niệm sai lầm #5: Chỉ có thanh thiếu niên mới tự hại.
Sự thật: Đúng là thanh thiếu niên có nguy cơ tự hại cao hơn. Tuy nhiên, tự hại có thể xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào.

Theo chia sẻ của các chuyên gia, hành vi tự hại thường xảy ra nhiều nhất ở độ tuổi thanh thiếu niên và mới lớn. Tuy vậy, người lớn tuổi vẫn có thể tự hại. Các con số chỉ ra rằng người lớn có tỉ lệ tự hại thấp hơn thanh thiếu niên, nhưng không có nghĩa là người lớn không bao giờ có hành vi tự hại. Ngoài ra chúng ta cũng nên lưu ý, một số trẻ nhỏ cũng có thể tự hại, nhất là khi đối mặt với quá nhiều lo âu và sợ hãi.
Một nghiên cứu đã cho thấy mối liên hệ giữa sự tự hại ở người lớn với việc sử dụng rượu và ma tuý. Cũng trong bài nghiên cứu này, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, hành vi tự hại ở người lớn thường không yêu cầu điều trị y khoa và thường bao gồm:
- Tự cắt rạch
- Tự đốt
- Tự cắn
- Tự cào cấu
- Tự cạo da
- Đánh đập (những vật dụng xung quanh hoặc chính mình)
- Tự cậy, chọc ngoáy vào vết thương

Quan niệm sai lầm #6: Tự hại là vô cùng hiếm gặp.
Sự thật: Tỉ lệ tự hại cao hơn so với nhiều người nghĩ.

Người tự hại thường cảm thấy xấu hổ và muốn giấu đi tình trạng của mình, khiến nhiều người nghĩ nó ít khi xảy ra. Tuy nhiên, các số liệu thống kê cho thấy tự hại là một hiện tượng không hề hiếm gặp: 17,2% với thanh thiếu niên, 13,4% với đầu tuổi trưởng thành và 5,5% với người trưởng thành.
Các thống kê khác cho thấy, ở độ tuổi từ 7 tới 16, 9% các bạn nữ và 6,7% các bạn nam thừa nhận đã từng có hành vi tự hại. Mức độ phổ biến của sự tự hại trở nên khác biệt rõ rệt giữa các bạn nam và các bạn nữ lớp 9: 19% nữ và 5% nam thừa nhận mình có hành vi tự hại.
Nếu ta nhìn vào các số liệu trên, nhìn chung nữ giới có nguy cơ tự hại cao hơn. Trên thực tế, các thống kê về sự tự hại cho thấy 35-50% số người tự hại là nam giới. Các con số này cho thấy tỉ lệ tự hại giữa hai giới có thể ngang nhau. Ngoài ra, chúng ta cũng cần lưu ý rằng những người trong cộng đồng LGBTQ+ có nguy cơ tự hại cao hơn, ví dụ như có tới một nửa số phụ nữ song tính có hành vi tự hại. Tóm lại, tự hại không phải một tình trạng hiếm gặp, và thậm chí với một số nhóm còn vô cùng phổ biến.

Quan niệm sai lầm #7: Giới trẻ tự hại để cố hoà nhập với bạn bè.
Sự thật: Mục đích của việc tự hại thường không phải là để hoà nhập.

Như đã kể trên, người trẻ tự hại để điều tiết những cảm xúc tiêu cực, những nỗi lo âu và sợ hãi. Vì vậy, hoà nhập với bạn bè không phải là mục đích của việc tự hại. Theo các chuyên gia, việc tự hại có thể có nhiều lý do, chẳng hạn như để chống chọi với chứng trầm cảm, với việc bị bắt nạt hay bị từ chối. Người tự hại không phải để cố hoà nhập với bạn bè. Chính vì không hoà nhập được với bạn bè, mới có thể dẫn tới việc tự hại.
Giới trẻ cũng có thể tự hại do tự ti hoặc do có mặc cảm về ngoại hình. Một số người khác có thể làm vậy vì họ gặp khó khăn trong việc điều tiết, kiểm soát những cảm xúc tiêu cực, nhưng nhìn chung thì thường không phải để cố hoà nhập.

Quan niệm sai lầm #8: Người tự hại làm vậy để thao túng người khác.
Sự thật: Chủ đích của việc tự hại không phải là để thao túng người khác.

Theo chương trình nghiên cứu về tự hại và quá trình hồi phục của đại học Cornell, nghĩ rằng người tự hại tự làm đau bản thân để thao túng người khác là một quan niệm sai lầm thường thấy. Chuyên gia của đại học Cornell cho biết mục tiêu chính của việc tự hại là để giải toả áp lực, không phải để thao túng người khác.
Mặc dù mục đích không phải là để thao túng, sự tự hại có thể là một lời kêu cứu của những người ở trong tình trạng này. Kết quả từ một nghiên cứu cho thấy, nhiều thanh thiếu niên tự hại thực sự có thể đang cố tìm kiếm sự giúp đỡ. Họ thừa nhận rằng một phần lí do của việc tự hại là để người khác thấy mình đang rất tuyệt vọng. Trong trường hợp này, hành vi tự hại không có mục đích thao túng, mà thực chất là cách để người gặp vấn đề thể hiện rằng họ cần giúp đỡ, một điều mà vốn dĩ đã không hề dễ dàng với những người phải tự hại để kiểm soát được nỗi lo sợ.

Quan niệm sai lầm #9: Bất cứ ai có hành vi tự hại đều đã bị bạo hành.
Sự thật: Người có tiền sử bị bạo hành sẽ có nguy cơ tự hại cao hơn. Tuy nhiên, không phải ai có hành vi tự hại cũng đã từng bị bạo hành.

Tỉ lệ tự hại thực sự cao hơn ở người đã từng bị bạo hành, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều nhân tố rủi ro khác. Theo báo cáo của NAMI, việc sử dụng rượu và ma tuý cũng có thể làm gia tăng nguy cơ tự hại. Ngoài ra theo các nghiên cứu, những người mặc cảm về ngoại hình và bị rối loạn ăn uống cũng có nguy cơ tự hại cao hơn.
Một nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng những ai bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ có thể cũng có tỉ lệ có hành vi tự hại cao. Công trình nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng người tự hại hay phải trải qua những trạng thái cảm xúc tiêu cực như trầm cảm hay lo âu hơn. Hiểu một cách chính xác nhất, việc bị bạo hành làm gia tăng nguy cơ có hành vi tự hại, nhưng không đảm bảo sẽ dẫn tới tự hại.

Quan niệm sai lầm #10: Tự hại chỉ là một vấn đề tuổi teen, khi lớn lên sẽ tự hết.
Sự thật: Tự hại là một vấn đề nghiêm trọng cần phải được can thiệp.

Tuy tự hại là tương đối phổ biến ở các bạn tuổi vị thành niên để ứng phó với sự căng thẳng, phương pháp này không hề lành mạnh. Ngay cả khi người tự hại không có ý định tự sát, họ vẫn có nguy cơ tự sát cao hơn người không tự hại. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong số những người ban đầu tự hại không có ý định tự sát, những người tiếp tục có hành vi tự hại sau đó có khả năng tự sát cao hơn hẳn những người còn lại.
Bên cạnh việc tự sát, người tự hại còn có nguy cơ cao mắc các chứng rối loạn tâm lý như trầm cảm. Chính vì vậy, tự hại không phải là một vấn đề tuổi teen và sẽ tự hết. Đó là một phương pháp vô cùng không lành mạnh để ứng phó với căng thẳng, có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng nếu không được giải quyết. Để vượt qua được ham muốn và thói quen tự hại, người tự hại cần nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ từ người khác.

Quan niệm sai lầm #11: Không có cách nào chữa được tự hại.
Sự thật: Các phương pháp trị liệu tâm lý có thể điều trị vấn đề tự hại một cách hiệu quả.

Trong quá trình điều trị tự hại, người tự hại sẽ được học những phương pháp lành mạnh hơn để ứng phó với cảm xúc tiêu cực. Bên cạnh đó, việc điều trị cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề tiềm tàng từ trước đó (ví dụ như chứng rối loạn ăn uống hay sang chấn tâm lý) góp phần dẫn đến tự hại. Theo NAMI, trị liệu tâm lý là một yếu tố không thể thiếu được trong việc điều trị tự hại. Ngoài ra, người tự hại có thể cần sử dụng cả thuốc để điều trị các triệu chứng đi kèm như trầm cảm.
Các chuyên gia đã chỉ ra một số liệu pháp trị liệu có hiệu quả cao trong việc điều trị tự hại, điển hình như liệu pháp hành vi biện chứng (dialectical behavior therapy), trị liệu nhận thức - hành vi (cognitive behavioral therapy) hay liệu pháp thấu hiểu suy nghĩ, cảm xúc (mentalization-based therapy).

Nguồn: 11 common myths about self-harm, The Recovery Village

Hãy liên hệ với số hotline 0977.729.396 của Viện ngay hôm nay để được tư vấn tận tình.

Hình ảnh một số bác sĩ tâm thần và chuyên gia tâm lý được đào tạo bài bản và giàu kinh nghiệm của Viện Tâm Lý Việt - Pháp:



0977.729.396