Bất Lực Tập Nhiễm (Learned Helplessness) Là Gì?

Bất lực tập nhiễm là một hiện tượng tâm lý trong đó một người biết rằng họ không thể tránh khỏi những điều tồi tệ xảy ra trong tương lai. Điều này khiến họ ngừng cố gắng ngăn chặn chúng. Bất lực tập nhiễm thường liên quan đến trầm cảm.

Điểm Trọng Yếu

  • Bất lực tập nhiễm là một hiện tượng xảy ra khi một loạt kết quả tiêu cực hoặc tác nhân gây căng thẳng khiến ai đó tin rằng kết quả của cuộc sống nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.

  • Nếu một người biết rằng hành vi của họ không tạo ra sự khác biệt nào đối với môi trường gây khó chịu cho họ, họ có thể ngừng cố gắng thoát khỏi các kích thích gây khó chịu ngay cả khi có thể trốn thoát.

  • Martin Seligman và Steven F. Maier là những người đầu tiên xác định tình trạng bất lực tập nhiễm là một hiện tượng tâm lý vào những năm 1960. Các nhà tâm lý học này đã tiến hành các thí nghiệm trên chó, phát hiện ra rằng khi tiếp xúc với những cú sốc lặp đi lặp lại mà chúng không thể kiểm soát được, những con vật này đã kiềm chế không hành động ngay cả khi chúng có thể ngăn chặn những cú sốc đó.

  • Điểm đáng chú ý là bất lực tập nhiễm thường được sử dụng như một lời giải thích cho chứng trầm cảm và rối loạn căng thẳng hậu chấn thương ở người, tuy nhiên, hiện tượng tâm lý này cũng không phải không có sự chỉ trích về tính phù hợp.

  • Có một số cách để vượt qua bất lực tập nhiễm trong đó có một yếu tố mà Seligman đã đề cập là học được sự hy vọng.

Tổng Quan

Về cơ bản, những người trải qua tình trạng bất lực tập nhiễm cho biết rằng họ thiếu kiểm soát hành vi đối với các sự kiện trong môi trường của họ, và điều này làm suy yếu động lực của họ để thực hiện các thay đổi hoặc cố gắng thay đổi tình huống.

Những người đầu tiên mô tả tình trạng bất lực tập nhiễm là các nhà tâm lý học người Mỹ Steven F. Maier và Martin E. P. Seligman.

Martin Seligman đã tiến hành một loạt thí nghiệm cổ điển vào những năm 1960 (Seligman & Maier, 1967), trong đó một số con chó được đặt trong một căn phòng nơi chúng bị điện giật mà chúng không thể trốn thoát (tình trạng không thể trốn thoát) và nhóm còn lại là những con chó có thể thoát khỏi sốc điện bằng cách dùng mũi ấn vào một tấm bảng.

Trong giai đoạn thứ hai, những con vật được đặt trong hộp con thoi được ngăn bởi một rào chắn ở giữa để những con chó có thể nhảy lên để thoát khỏi những cú sốc điện. Chỉ những con chó đã học cách trốn thoát trong giai đoạn trước mới cố gắng nhảy. Những con chó khác thì không.

Khi những con chó trong tình trạng “không thể trốn thoát” được cho cơ hội để thoát khỏi những cú sốc điện bằng cách cho chúng một lối thoát thông qua việc nhảy qua một vách ngăn, hầu hết các con chó đều không thử; chúng dường như bỏ cuộc và chấp nhận một cách thụ động các cú sốc điện từ những người làm thí nghiệm.

Để so sánh, những con chó trước đây đã có từng thoát khỏi những cú sốc điện thành công có xu hướng nhảy qua vách ngăn và trốn thoát.

Seligman đã mô tả một hội chứng với ba đặc điểm chính để mô tả hành vi này (1967):

  • Sự thiếu hụt động lực được đặc trưng bởi việc không đáp ứng khi bị thách thức với các sự kiện gây khó chịu tiếp theo;

  • Sự thiếu hụt liên kết được đặc trưng bởi sự suy giảm khả năng học hỏi từ việc đối phó thành công;

  • Sự thiếu hụt cảm xúc được đặc trưng bởi phản ứng rõ ràng đối với các sự kiện đau đớn.

Mặc dù những điểm này được cho là ít hoạt động đối với các tác nhân gây căng thẳng, nhưng các nhà nghiên cứu sau đó đã phát hiện ra rằng thông qua phân tích nồng độ cortisol trong máu, các loài động vật thực tế đã rất căng thẳng (Ackerman, 2022).

Bất Lực Tập Nhiễm Và Sức Khỏe Tâm Thần

Vào những năm 1970, Seligman đã mở rộng khái niệm về tình trạng bất lực tập nhiễm từ nghiên cứu động vật sang chứng trầm cảm lâm sàng ở người và đề xuất một lý thuyết về tình trạng bất lực tập nhiễm để giải thích lý do vì sao con người dễ bị trầm cảm.

Theo lý thuyết này, những người thường xuyên phải đối mặt với các tình huống căng thẳng ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ không thể đưa ra quyết định hoặc tham gia một cách hiệu quả vào hành vi có mục đích.

Sau đó, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng lý thuyết bất lực tập nhiễm có điểm giống với chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương (Ackerman, 2022)

Vai Trò Của Những Lý Giải Về Tình Trạng Bất Lực Tập Nhiễm

Mặc dù lý thuyết về sự bất lực tập nhiễm ban đầu được coi là một bước đột phá quan trọng ở thời điểm nó ra đời, nhưng người ta đã sớm chấp nhận rằng lý thuyết này cần được phát triển thêm để có thể áp dụng cho con người, hành vi ở con người phức tạp hơn các loài động vật khác, vì nó liên quan đến quá trình nhận thức của họ.

Seligman và các đồng nghiệp sau đó đã xây dựng lại mô hình trầm cảm bất lực tập nhiễm nguyên bản (Abramson, Seligman, & Teasdale, 1978). Trong những cải tổ của mình, họ nhấn mạnh các quy kết (tức là nhận định về lý do tại sao điều gì đó xảy ra) dẫn đến việc một người thiếu kiểm soát đối với các kết quả tiêu cực là rất quan trọng trong việc thúc đẩy cảm giác bất lực tập nhiễm.

Mô hình giải thích về bất lực tập nhiễm đã tìm cách xác định các kiểu phản ứng của cá nhân đối với các sự kiện cả tích cực và tiêu cực trong cuộc sống của họ.

Logic của mô hình là, khi một cá nhân nhận thấy mình đang ở trong một tình huống có điều gì đó hoặc đúng hoặc sai, họ sẽ đặt câu hỏi tại sao.

Những câu trả lời mà người đó có xu hướng đưa ra khi tự hỏi bản thân sẽ quyết định liệu người đó xem nó là lạc quan hay bi quan (Healy, 2017).

Ví dụ, nói rằng một sự kiện tiêu cực xảy ra. Nếu ai đó cho rằng nguyên nhân của sự kiện đó có tính chất ổn định hoặc lâu dài — trái ngược với tính chất tạm thời — thì quan điểm đó có thể khuyến khích tình trạng bất lực kéo dài, dẫn đến bất lực tập nhiễm.

Nếu người đó nghĩ rằng nguyên nhân của sự kiện tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác trong cuộc sống của họ — trái ngược với việc liên hệ chúng với vấn đề hiện tại — thì người gặp phải vấn đề đó có thể dễ bị bất lực trên phạm vi rộng.

Cuối cùng, nếu ai đó cho rằng họ có lỗi về những gì đã xảy ra, hay còn được gọi là quy kết nguyên nhân bên trong thay vì quy kết nguyên nhân bên ngoài, thì điều đó có thể có tác động tiêu cực đến lòng tự trọng (Healy, 2017).

Martin Seligman và Christopher Peterson (1967) đã nhấn mạnh trong bài viết của họ về cách mà một người nhận định đối với một sự kiện sẽ có xu hướng tuân theo một khuôn mẫu tâm lý nhất định. Điều đó có nghĩa là bất kỳ ai cũng sẽ có xu hướng phản ứng với các sự kiện tích cực và tiêu cực theo những cách nhất quán, theo thói quen nhất định. 

Điều này có thể mang lại lợi ích cho sức khỏe tâm thần nếu họ vô tình mặc định rằng nó lạc quan, nhưng sẽ lại rất có vấn đề đối với những người có xu hướng bi quan.

Trên thực tế, sự bất lực tập nhiễm và cách mà con người nhận định một sự việc theo hướng tiêu cực đều có liên quan đến sự phát triển chứng trầm cảm ở các cá nhân (Healy, 2017).

Nhận Định Vấn Đề Theo Hướng Tiêu Cực Và Tích Cực

Các dấu hiệu của một nhận định lạc quan trái ngược hoàn toàn với những dấu hiệu của nhận định tiêu cực. 

Ví dụ, nhận định bi quan có thể coi những hoàn cảnh tiêu cực là điều gì đó chắc chắn sẽ tồn tại và những sự kiện tích cực chỉ mang tính tạm thời. Trong khi đó, nhận định tình huống một cách lạc quan sẽ có xu hướng coi những hoàn cảnh tiêu cực là tạm thời và mong đợi những sự kiện tích cực sẽ diễn ra.

Ngoài ra, trong khi những nhận định tiêu cực có xu hướng đổ lỗi cho bản thân về những kết quả không như ý muốn và ghi nhận các yếu tố bên ngoài khi mọi việc diễn ra đúng như ý muốn, thì nhận định tích cực giúp cá nhân ghi nhận bản thân khi mọi việc diễn ra suôn sẻ và xác định các yếu tố bên ngoài là các yếu tố chìa khóa khi mọi việc diễn ra không như ý muốn (Healy , 2017).

Tuy nhiên, cần xem xét mức độ mà một nhận định lạc quan mang lại lợi ích để khắc phục tình trạng bất lực tập nhiễm ở mức tương đối. 

Ví dụ: luôn mặc định nguyên nhân là từ người khác hoặc do hoàn cảnh khi mọi việc diễn ra không như ý muốn và luôn cho rằng thành công như một thứ mà bất cứ ai cũng có thể đạt được, mặc dù cách nhận định này đáp ứng các tiêu chí của một nhận định lạc quan, nhưng chính bản thân nó đã tạo thành một vấn đề (Healy, 2017). 

Tham Khảo: Tích cực độc hại

Những Chỉ Trích Đối Với Lý Thuyết Về Bất Lực Tập Nhiễm

Lý thuyết bất lực tập nhiễm (1967) của Seligman, cũng như các lý thuyết phát triển của những người khác đã nhận được khá nhiều sự chỉ trích.

Các nhà tâm lý học tin rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến trầm cảm hơn là sự bất tập nhiễm. Mặc dù các triệu chứng của sự bất lực tập nhiễm có thể phản ánh các triệu chứng của bệnh trầm cảm, nhưng có một loạt các yếu tố tâm lý và thần kinh phức tạp đằng sau tình trạng này. Thật vậy, trầm cảm có thể không nhất thiết phát sinh từ thất bại lặp đi lặp lại.

Ví dụ, một học sinh có thể trở nên chán nản sau khi liên tục đổ lỗi cho bản thân về tình trạng căng thẳng kéo dài ở trường học và tình trạng kết quả thi kém.

Ngoài ra, những người trong các thí nghiệm về bất lực tập nhiễm thường mô tả nhiệm vụ của họ là một nhiệm vụ thiên về kỹ năng, nhưng lại coi chúng như thể chúng là những nhiệm vụ có tính may rủi.

Điều đó có nghĩa là, những người tham gia vào các thí nghiệm bất lực tập nhiễm đã hành xử như thể họ không kiểm soát được kết quả và họ đã nói bằng lời rằng họ vẫn tin rằng nỗ lực của họ có thể ảnh hưởng đến kết quả của chính họ (Ackerman, 2022).

Ví Dụ

Bất Lực Tập Nhiễm Trong Giáo Dục

Đây là một chủ đề phổ biến được rất nhiều sự quan tâm trong lĩnh vực giáo dục. Đặc biệt, các nhà giáo dục quan tâm đến việc thất bại sớm trong học tập hoặc lòng tự trọng thấp trong học tập có thể ảnh hưởng đến thành công sau này như thế nào và tác động mối quan hệ này như thế nào để nâng cao cơ hội thành công (Firmin, Hwang, Copella, & Clark, 2004).

Tình trạng bất lực tập nhiễm ở học sinh tạo ra một vòng luẩn quẩn trong đó học sinh cảm thấy mình không thể thành công sẽ khó có thể nỗ lực học tập. Ngược lại, điều này làm giảm cơ hội thành công của họ, dẫn đến động lực và nỗ lực giảm dần. 

Chu kỳ này có thể lên đến đỉnh điểm khi một học sinh hầu như không có động lực để học một môn học và dẫn đến không có năng lực.

Nó thậm chí có thể dẫn đến một cảm giác bất lực tổng quát hơn, trong đó học sinh không có niềm tin vào khả năng của mình và không có động lực để học bất kỳ môn học nào ở trường (Firmin, Hwang, Copella, & Clark, 2004).

Các nhà giáo dục đã phát triển một số chiến lược có thể giúp ngăn học sinh học vướng vào bất lực tập nhiễm, chẳng hạn như:

  • khen ngợi và khuyến khích dựa trên khả năng của học sinh để giúp họ tin rằng họ giỏi các môn học này,

  • khen ngợi và khuyến khích dựa trên nỗ lực của học sinh

  • cùng học sinh thiết lập mục tiêu cá nhân để giúp các em biết rằng các mục tiêu có thể đạt được và các kết quả có thể nằm trong tầm kiểm soát của các em (Firmin, Hwang, Copella, & Clark, 2004).

Bất Lực Tập Nhiễm Trong Các Mối Quan Hệ

Tình trạng bất lực tâp nhiễm trong các mối quan hệ cũng trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu hướng tới chủ đề bạo lực gia đình, vì nó thường được quan sát thấy trong các mối quan hệ liên quan đến lạm dụng. Hiện tượng bất lực tập nhiễm đã giúp các nhà nghiên cứu trả lời các câu hỏi như tại sao những người bị bạo hành không nói với người khác, hay tại sao họ không cố gắng tìm kiếm sự giúp đỡ hoặc không rời bỏ các mối quan hệ (Ackerman, 2022).

Thông thường, trong các mối quan hệ lạm dụng, những kẻ lạm dụng khiến nạn nhân của họ bị lạm dụng nhiều lần để nạn nhân thích nghi với việc lạm dụng và dạy họ rằng họ không kiểm soát được tình hình.

Do đó, những kẻ bạo hành sẽ duy trì quyền kiểm soát và các nạn nhân biết rằng họ bất lực trước hoàn cảnh của mình (Ackerman, 2022). Thường thì sự bất lực tập nhiễm này rất khó loại bỏ, và thường cần được hỗ trợ cũng như trị liệu chuyên sâu bởi các chuyên gia về tâm lý (Ackerman, 2022).

Bất Lực Tập Nhiễm Trong Các Nghiên Cứu

Mặc dù các thí nghiệm cực đoan như của Seligman chưa được thực hiện trên người — và sẽ không được chấp nhận về mặt đạo đức, tuy nhiên có các thí nghiệm khác tương tự đã được thực hiện trên người cũng cho kết quả giống nhau.

Trong một nghiên cứu về tình trạng bất lực tập nhiễm ở người, những người tham gia được chia thành ba nhóm. Một nhóm phải chịu tiếng ồn lớn và khó chịu nhưng có thể tắt tiếng ồn bằng cách nhấn một nút bốn lần, trong khi nhóm thứ hai cũng phải chịu tiếng ồn tương tự nhưng nút này không hoạt động.

Sau đó, mọi người được đưa cho một chiếc hộp có cần gạt mà khi thao tác sẽ tắt âm thanh. Như trong các thí nghiệm trên động vật, những người không kiểm soát được tiếng ồn trong lần thí nghiệm đầu tiên có xu hướng không cố gắng tắt tiếng ồn, trong khi những người tham gia khác lại cố gắng tắt nó (Seligman, 1967; Ackerman, 2022).

Bất Lực Tập Nhiễm & Học Cách Hy Vọng Tại Những Tổ Chức Tình Nguyện 

Một ví dụ về môi trường nơi các cá nhân có thể học được niềm hy vọng là tại các tổ chức tình nguyện. Zimmerman (1990) đã tiến hành một nghiên cứu về việc các cá nhân được trao quyền cảm thấy như thế nào sau khi làm các công việc tình nguyện trong một số môi trường nhất định, được đo lường bằng các biện pháp nhận thức, tính cách và động cơ kiểm soát nhận thức.

Ông phát hiện ra rằng những người tình nguyện cảm thấy kiểm soát được cuộc sống của chính họ nhiều hơn và có nhiều khả năng cho rằng thành công của họ là do hành động của chính họ (Zimmerman, 1990).

Nguồn: Nickerson, C. (2022, April 24). What Is Learned Helplessness and Why Does it Happen? –  Simply Psychology

Tham khảo: 8 Thí nghiệm tâm lý xã hội nổi tiếng

Source link

Liên hệ với chúng tôi